There is no video clip yet

FDA đã chấp thuận Epclusa cho điều trị viêm gan C mạn tính.

Ngày 28/06/2016, FDA đã chấp thuận Epclusa cho điều trị viêm gan C mạn tính. Đây là dược phẩm đầu tiên để điều trị cho cả 6 genotype đã biết của HCV.

Cơ quan Quản lý dược phẩm và thực phẩm Hoa Kì (FDA) vừa chấp thuận Epclusa cho điều trị người trưởng thành mắc viêm gan C mạn (HCV) có hoặc không có xơ gan (bệnh gan tiến triển). Với bệnh nhân xơ gan mức độ trung bình đến nặng (xơ gan mất bù), Epclusa được chấp thuận để dùng phối hợp với ribavirin. Epclusa là viên nén phối hợp sofosbuvir, một thuốc được chấp thuận từ 2013, và velpatasvir, một thuốc mới, và là dược phẩm đầu tiên để điều trị cho cả 6 genotype chính của HCV.

Viêm gan C là một bệnh do virus, gây viêm và có thể dẫn đến suy gan. Có ít nhất 6 genotype HCV khác biệt nhau về di truyền đã được biết. Việc xác định các genotype giúp cung cấp những khuyến cáo cũng như khoảng thời gian điều trị phù hợp. Xấp xỉ 75% người Mĩ mắc HCV là genotype 1; 20-25% là genotype 2 hoặc 3; và một số nhỏ bệnh nhân nhiễm genotype 4, 5 hoặc 6. Theo Trung tâm Phòng ngừa và Kiểm soát Bệnh tật (CDC), nhiễm HCV trở thành mạn tính xấp xỉ ở 75% đến 85% các trường hợp. Bệnh nhân nhiễm HCV mạn tính trong nhiều năm có thể gặp nhiều biến chứng, như là chảy máu, vàng da, ứ dịch ở bụng, nhiễm trùng, ung thư gan và tử vong.

Độ an toàn và hiệu quả của Epclusa trong 12 tuần được đánh giá bởi 3 thử nghiệm pha III gồm 1,558 bệnh nhân không xơ gan hoặc có xơ gan còn bù (xơ gan nhẹ). Các kết quả đã chứng minh rằng 95-99% bệnh nhân dùng Epclusa không còn tìm thấy virus trong máu 12 tuần sau khi kết thúc điều trị. Độ an toàn và hiệu quả của Epclusa cũng được đánh giá trong 1 thử nghiệm lâm sàng gồm 267 bệnh nhân xơ gan mất bù (xơ gan trung bình đến nặng), trong đó 87 bệnh nhân dùng Epclusaphối hợp với ribavirin trong 12 tuần, và 94% số bệnh nhân này không còn tìm thấy virus trong máu 12 tuần sau khi kết thúc điều trị.

Tác dụng phụ thông thường nhất của Epclusa bao gồm đau đầu và mệt mỏi. Chế độ phối hợpEpclusa và ribavirin là chống chỉ định ở những bệnh nhân đã chống chỉ định với ribavirin.

Một cảnh báo quan trọng về Epclusa cho bệnh nhân và nhân viên y tế là khả năng gây chậm nhịp tim nặng (chậm nhịp tim có triệu chứng) và những trường hợp cần phải can thiệp bằng máy tạo nhịp đã được báo cáo khi dùng amiodarone với sofosbuvir phối hợp cùng các thuốc kháng virus HCV tác động trực tiếp khác. Việc dùng đồng thời amiodarone với Epclusa không được khuyến cáo.

Epclusa được sản xuất và đưa ra thị trường bởi công ty Gilead Sciences, Inc., tại Foster City, California.

 Nguồn FDA

Người phụ nữ từng cấy ghép tử cung hiện đang mang thai đứa con thứ hai

Theo BBC, vị giáo sư từng tiên phong trong quy trình cấy ghép tử cung năm 2014 – ông Mats Brännström đến từ Thụy Điển đã thông báo tại cuộc họp giao ban thường niên tại Đại học Sản phụ khoa Hoàng Gia ở Birmingham, Vương Quốc Anh, như một tin mừng cho ngành Sản phụ khoa thế giới. Hiện nay người phụ nữ này vẫn được giấu tên nhưng điều quan trọng hơn hết tin tức tuyệt vời này không chỉ là niềm vui với người mẹ may mắn này mà còn là niềm vui của hàng ngàn phụ nữ không có tử cung khỏe mạnh hoặc buộc phải cắt bỏ tử cung vì lý do sức khỏe nào đó.

Những ca cấy ghép tử cung sẽ được thực hiện lấy tử cung từ người hiến tặng miễn sao cơ thể họ chưa chết hoàn toàn, tim vẫn đập và chưa bị chết não. Trên thế giới, ngoài nước Anh thì ở Hoa Kỳ cũng đã diễn ra ca phẫu thuật ghép tử cung đầu tiên vào tháng ba đầu năm 2016 vừa qua nhưng ca phẫu thuật này đã gặp thất bại sau vài ngày do biến chứng đột ngột và nghiêm trọngTuy nhiên, bất chấp thất bại đã xảy ra, các nhà sản phụ khoa Hoa Kỳ không từ bỏ và tiếp tục thực hiện ca cấy ghép tử cung tiếp theo sớm nhất có thể trong năm nay.

Ông Richard Smith, người dẫn đầu chương trình nghiên cứu cấy ghép tử cung ở Anh, cho biết: “Những người phụ nữ vô sinh hoàn toàn là vấn đề rất lớn của xã hội và ngày càng tăng ảnh hưởng đến hàng chục ngàn phụ nữ khác ở mỗi quốc gia. Ít nhất sự thành công của nhóm nghiên cứu đã cho thấy rằng những người phụ nữ gặp những rủi ro về sự mất mát tử cung của họ sẽ không còn phải bị áp lực với một đứa con duy nhất sau khi phẫu thuật cấy ghép tử cung, mà hoàn toàn họ có thể có 2 con hoặc nhiều hơn.”

Và riêng ở Anh, 10 ca cấy ghép tử cung đầu tiên đã được thực hiện trên cả nước.

Thông tin được cung cấp và công bố bởi Hội đồng Y tế Anh.

Kỹ thuật lựa chọn tinh trùng: Hi vọng mới trong điều trị vô sinh

Các nhà nghiên cứu đã phát triển một thiết bị mới có thể lựa chọn những tinh trùng tốt nhất trong hàng triệu con tinh trùng trong vòng chỉ 30 phút để sử dụng trong các công nghệ hỗ trợ sinh sản như thụ tinh trong ống nghiệm. Thiết bị này dựa trên công nghệ vi lỏng, làm giảm nguy cơ tổn thương ADN liên quan tới phương pháp phân loại tinh trùng thông thường và có thể giúp các cặp vô sinh có được những đứa con khoẻ mạnh.

Trên thế giới có gần 48,5 triệu cặp đôi không thể sinh con sau khi đã cố gắng 5 năm, thậm chí lâu hơn. Mặc dù thụ tinh trong ống nghiệm, bơm tinh trùng vào tử cung và tiêm tinh trùng vào bào tương trứng là những lựa chọn điều trị hiệu quả cho các cặp vô sinh, nhưng chỉ khoảng 1/3 số trường hợp sử dụng các phương pháp này có kết quả là những đứa trẻ sinh sống.

Vô sinh nam chiếm khoảng 30-50% tất cả các trường hợp vô sinh và nam giới vô sinh thường có đặc điểm tinh trùng bất thường như mật độ tinh trùng thấp, chuyển động tinh trùng kém, hình dạng và kích thước bất thường và mức độ tổn thương ADN cao. Tổn thương ADN là một trong những đặc điểm quan trọng hơn của tinh trùng vì mức độ tổn thương cao hơn liên quan tới tỷ lệ mang thai thấp hơn, sảy thai sớm và tỷ lệ mắc bệnh ở con của những cặp sử dụng công nghệ hỗ trợ sinh sản cao hơn. Đó là lý do tại sao cần phát triển các phương pháp chọn tinh trùng khoẻ mạnh nhất cho công nghệ hỗ trợ sinh sản.

Phương pháp được sử dụng phổ biến hoặc thuận tiện nhất cho công nghệ hỗ trợ sinh sản liên quan đến một kỹ thuật gọi là ly tâm. Mặc dù phương pháp này có hiệu quả trong lựa chọn những tinh trùng bình thường về độ di động và hình thái học, quy trình này khó hiểu vì nó thường làm tăng hàm lượng các chất hoá học gây tổn thương ADN.

Thiết bị của Asghar bao gồm một đầu vào để tiêm một mẫu tinh dịch chưa được xử lý và hai buồng nhựa được ngăn cách bởi màng xốp. Những con tinh trùng khoẻ mạnh và di động nhất bơi qua màng xốp để lại những tinh trùng ít hoạt động và chết ở buồng dưới. Sử dụng công nghệ lựa chọn này, một kỹ thuật viên chỉ cần tiêm mẫu tinh dịch vào thiết bị và sau đó có thể lựa chọn tinh trùng khoẻ mạnh ở buồng trên trong khoảng 30 phút, khiến cho việc lựa chọn tinh trùng trở nên dễ dàng hơn. So với những kỹ thuật khác được sử dụng cho công nghệ hỗ trợ sinh sản, sử dụng thiết bị vi lỏng này có kết quả trong việc làm giảm đáng kể tỷ lệ tổn thương ADN và cải thiện sự phục hồi tinh trùng sử dụng phương pháp này.