Hướng dẫn cách uống thuốc tránh thai có hiệu quả

Hướng dẫn cách uống thuốc tránh thai có hiệu quả:

Sau đây là  hướng dẫn bạn cách uống thuốc tránh thai loại vỉ 21 viên và loại vỉ 28 viên, cụ thể như sau:

Cách uống vỉ 21 viên: Với vỉ đầu tiên, bạn uống 1 viên/ngày bắt đầu từ ngày thứ nhất của chu kỳ kinh nguyệt, uống liên tục trong 21 ngày. Uống vỉ tiếp theo: bạn nghỉ 7 ngày sau khi đã uống hết vỉ đầu tiên và sau 7 ngày đó thì uống tiếp vỉ thứ 2, không cần quan tâm đến kinh nguyệt sẽ xuất hiện ngày nào.

 

Cách uống vỉ 28 viên: Vỉ này thành phần gồm 21 viên chứa hormone tránh thai và 7 viên giả dược có chứa đường, sắt... nhưng không chứa hormone (7 viên này có trong vỉ để bạn uống liên tục, không cần ngắt quãng, đỡ quên, 7 viên này nhà sản xuất thường sản xuất có màu khác biệt so với các viên khác để bạn có thể phân biệt).

Cách dùng của vỉ này hoàn toàn giống vỉ 21 viên, bạn uống viên đầu tiên vào ngày thứ nhất của chu kỳ kinh nguyệt, cứ thế uống mỗi ngày 1 viên, hết vỉ đầu, bạn uống tiếp vỉ 2, 3…mà không cần nghỉ 7 ngày như đối với vỉ 21 viên, cứ hết vỉ này bạn chuyển sang uống vỉ khác luôn.

 

Lưu ý khi sử dụng thuốc tránh thai hằng ngày:

Không có quy định về thời gian dùng thuốc tránh thai hằng ngày nhưng các chuyên gia y tế khuyên người dùng nên uống vào 1 thời điểm cố định trong ngày. Ưu tiên chọn buổi sáng vì nếu lỡ có quên uống, bạn vẫn kịp uống “bù” vào buổi chiều, tối trong cùng 1 ngày.

Muốn thay đổi giờ uống thuốc nên thay đổi khi bắt đầu uống vỉ thuốc mới, thay đổi theo hướng tiến thời gian lên và thời gian trì hoãn không quá 12 tiếng đồng hồ.

Thuốc tránh thai hằng ngày có thể uống cùng hoặc cách xa thời gian dùng bữa ăn, cần uống nguyên viên, có thể dùng đồ uống phù hợp, ưu tiên nước lọc.

Ra nước ngoài hoặc đến nơi khác múi giờ với nơi bạn ở, hãy uống theo múi giờ của nơi bạn ở để duy trì việc uống thuốc liên tục, đúng thời gian. Khi không thể uống đúng múi giờ, bạn có thể uống sớm hơn và không uống trễ quá 12 tiếng.

Sử dụng thuốc khác khi đang dùng thuốc tránh thai hằng ngày, bạn nên tham khảo ý kiến của bác sĩ trước khi dùng vì có 1 số loại thuốc sẽ thay đổi hiệu lực, thành phần của thuốc tránh thai hằng ngày khi dùng chung như vitamin C; thuốc chống động kinh - Carbamazepin, Hydantoin, Phenobarbital; tetracyclin và các dẫn xuất; thuốc chống lao – Rifampicin; kháng sinh Penicillin; thuốc chống trầm cảm loại 3 vòng; than hoạt và các chất hấp phụ khác; thuốc nhuận tràng; các loại hormon tuyến giáp; Cimetidin, Promethazin; Sulfamid kháng khuẩn; thuốc chống tăng huyết áp…

Cách xử lý khi quên không uống thuốc, nôn sau khi uống:

Quên uống thuốc trong thời gian < 12 giờ so với thời gian uống hằng ngày: Bạn chỉ cần nhớ lúc nào, uống ngay lúc đó, kể cả trong trường hợp hôm đó bạn phải uống 2 viên liên tiếp gần giờ nhau, sau đó uống tiếp các viên khác như thông thường mà không cần sử dụng các biện pháp tránh thai bổ sung khác.

Quên uống thuốc trong thời gian > 12 giờ so với thời gian uống hằng ngày:

- Uống ngay viên thuốc đã quên, kể cả trong trường hợp hôm đó phải uống 2 viên liên tiếp gần giờ nhau và tiếp tục uống các viên khác như thông thường.

- Nhưng nếu có quan hệ tình dục trong 5 ngày trước khi quên viên thuốc, cần sử dụng thêm biện pháp tránh thai khẩn cấp. Trong thời gian 7 ngày sau khi quên uống thuốc nên tránh thai đồng thời với các biện pháp tránh thai cơ học như sử dụng bao cao su.

Nếu quên uống thuốc khi thuốc đó là dạng viên kết hợp Estrogen và Progesteron (thường là vỉ 21 viên) và quên uống trong tuần uống thuốc cuối cùng, hãy bắt đầu uống vỉ tiếp theo mà không cần chờ sau 7 ngày. Nếu thấy mất, chậm kinh từ 5 ngày trở lên, có sự thay đổi về chu kỳ kinh, cần thử thai để kiểm tra.

Bị nôn trong vòng 3 - 4 giờ sau khi uống thuốc, bạn uống ngay 1 viên tiếp theo. Nếu liên tục bị nôn/tiêu chảy, bạn nên áp dụng biện pháp tránh thai hằng ngày đồng thời các biện pháp tránh thai cơ học.

Luôn ghi nhớ dùng thuốc tránh thai hằng ngày phải đều đặn, đúng cách thì mới có hiệu quả cao, bạn hãy hãy lưu lại để tiện xem lại khi cần nhé.

THT.

 

 
 
 

Khuyến cáo khám sức khỏe định kỳ ở Phụ nữ.

TÓM TẮT HƯỚNG DẪN KHÁM SÀNG LỌC Ở PHỤ NỮ

Sàng lọc / Test

Đối tượng

Tần suất

Sàng lọc ung thư vú

Thăm khám lâm sàng

Từ 40 tuổi trở lên

Mỗi năm

Chụp nhũ ảnh

Từ 40 tuổi trở lên

Mỗi  năm

Từ 40-49 tuổi có thể 2 năm 1 lần.

Thảo luận với BS về tiền sử gia đình và các yếu tố nguy cơ

Tự khám vú

Từ 20 tuổi trở lên

Hằng tháng

Sàng lọc ung thư cổ tử cung

PAP / HPV

Từ 21 – 65 tuổi

-  Từ 21-30 tuổi: PAP mỗi 3 năm (không khuyến cáo thử HPV)

- Từ 30-65 tuổi: PAP + HPV mỗi 5 năm hoặc PAP mỗi 3 năm (Không cần sàng lọc sau khi đã cắt TC, ngoại trừ trường hợp cắt TC do nguyên nhân ung thư)

Sàng lọc Cholesterol

HDL, LDL, Triglycerides

Cho tất cả PN bắt đầu từ 20 tuổi hoặc sớm hơn nếu có nguy cơ

Mỗi 5 năm hoặc thường hơn tùy thuộc vào kết quả và yếu tố nguy cơ.

Sàng lọc ung thư đại – trực  tràng

Soi đại tràng, hoặc

-        Từ 50 tuổi trở lên không

có tiền sử gia đình bị ung thư đại tràng hay polyp đại tràng.

-        Từ 40 tuổi, hoặc bắt đầu

sàng lọc trước 10 năm so với tuổi mà người thân trong gia đình bị ung thư đại tràng hay polyp đại tràng.

Mỗi 10 năm

Xét nghiệm tìm máu trong phân với độ nhạy cao, hoặc

Mỗi  năm

Soi đại tràng xích ma

Mỗi 5 năm, với xét nghiệm tìm máu trong phân với độ nhạy cao mỗi 3 năm.

Sàng lọc đái tháo đường

Xét nghiệm máu lúc đói hoặc HbA1C

Từ 45 tuổi trở lên

Mỗi 3 năm

BMI >25 với ít nhất 1 yếu tố nguy cơ

Mỗi 3 năm

Sàng lọc bệnh tăng huyết áp

Đo huyết áp

Đối với tất cả PN

Mỗi 1-2 năm

Sàng lọc bệnh loãng xương

Đo mật độ xương

Từ 65 tuổi trở lên, hoặc bắt đầu lúc mãn kinh nếu có yếu tố nguy cơ

Tùy thuộc kết quả kiểm tra

Sàng lọc bệnh LTQĐTD

Sàng lọc thường quy Chlamydia

Cho tất cả PN ở tuổi 25 có hoạt động tình dục nhiều và PN trên 25 tuổi có nguy cơ cao

Mỗi năm

Sàng lọc HIV

Cho tất cả PN 13-64 tuổi

Sàng lọc 1 lần sau đó tùy thuộc kết quả và yếu tố nguy cơ

Theo hướng dẫn của:

1. U.S National Library of Medicine

2. The American College of Obstetricians and Gynecologists

BS CKII Trịnh Hữu Thọ lược dịch

 

 

 
 
 

Rối loạn cương dương.

Rối loạn chức năng cương dương (bất lực) là không có khả năng để có được và giữ cho dương vật cương cứng đủ cho giao hợp.

Vấn đề rối loạn cương cứng nhất thời không nhất thiết là một lý do cho mối quan tâm. Tuy nhiên, nếu rối loạn cương dương là một vấn đề đang diễn ra và liên tục, nó có thể gây căng thẳng, ảnh hưởng đến sự tự tin của bạn và góp phần ảnh hưởng đến quan hệ vợ chồng. Rối loạn cương dương cũng có thể là dấu hiệu của tình trạng sức khỏe cơ bản cần được điều trị và là yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch.

Nếu bạn lo lắng về rối loạn cương dương, bạn không nên xấu hổ hãy nói chuyện với bác sĩ của bạn. Đôi khi, điều trị tình trạng cơ bản là đủ để làm cải thiện rối loạn cương dương. Trong các trường hợp khác, có thể cần dùng thuốc hoặc điều trị chuyên biệt.

TRIỆU CHỨNG

Các triệu chứng rối loạn chức năng cương dương có thể bao gồm:

-       Gặp khó khăn khi cương cứng

-       Rắc rối khi giữ cương cứng

-       Giảm ham muốn tình dục

KHI NÀO ĐI KHÁM BÁC SĨ

Bác sĩ gia đình của bạn là nơi tốt nhất để bắt đầu khi bạn có vấn đề về rối loạn cương dương. Đi khám bác sĩ nếu:

Bạn  lo ngại về sự cương cứng của mình hoặc bạn đang gặp phải các vấn đề tình dục khác như xuất tinh sớm hoặc muộn.

Bạn bị bệnh tiểu đường, bệnh tim mạch hoặc một tình trạng sức khỏe khác có thể liên quan đến rối loạn cương dương. Bạn có các triệu chứng khác cùng với rối loạn cương dương.

NGUYÊN NHÂN

Kích thích tình dục ở nam giới là một quá trình phức tạp liên quan đến não, kích thích tố, cảm xúc, dây thần kinh, cơ và mạch máu. Rối loạn chức năng cương dương có thể là một bệnh lý liên quan đến một trong những yếu tố trên. Tương tự như vậy, căng thẳng và tình trạng sức khỏe tâm thần cũng có thể gây ra hoặc làm trầm trọng thêm rối loạn cương dương.

Đôi khi nguyên nhân gây ra rối loạn cương dương là sự kết hợp của các vấn đề thực thể và tâm lý. Ví dụ, một tình trạng thể chất nhỏ bé làm chậm phản ứng tình dục của bạn có thể gây lo lắng về việc duy trì cương cứng. Kết quả lo lắng có thể dẫn đến hoặc làm trầm trọng thêm rối loạn cương dương.

Nguyên nhân thực thể

Trong nhiều trường hợp, rối loạn chức năng cương dương là do bênh lý thực thể. Các nguyên nhân phổ biến bao gồm:

-       Bệnh tim

-       Mạch máu bị tắc (xơ vữa động mạch)

-       Cholesterol cao

-       Huyết áp cao

-       Bệnh tiểu đường

-       Béo phì

-       Hội chứng chuyển hóa - một tình trạng liên quan đến tăng huyết áp, mức insulin cao, cholesterol cao

-       Bệnh Parkinson

-       Đa xơ cứng

-       Một số loại thuốc điều trị cũng có thể gây rối loạn cương dương

-       Sử dụng thuốc lá

-       Bệnh Peyronie - phát triển mô sẹo bên trong dương vật

-       Nghiện rượu và các hình thức lạm dụng dược chất khác

-       Rối loạn giấc ngủ

-       Điều trị ung thư tuyến tiền liệt hoặc tuyến tiền liệt phì đại

-       Phẫu thuật hoặc chấn thương ảnh hưởng đến vùng xương chậu hoặc tủy sống.

Nguyên nhân tâm lý

Não đóng một vai trò quan trọng trong việc kích hoạt hàng loạt các điều khiển gây ra sự cương cứng, bắt đầu với cảm giác phấn khích tình dục. Một số yếu tố có thể can thiệp vào cảm xúc tình dục và gây ra hoặc làm trầm trọng thêm rối loạn cương dương. Bao gồm:

-       Trầm cảm, lo lắng hoặc các tình trạng sức khỏe tâm thần khác

-       Stress

-       Các vấn đề về mối quan hệ do căng thẳng, giao tiếp kém hoặc các mối quan tâm khác.

CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ

Khi bạn già đi, quá trình cương cứng có thể mất nhiều thời gian hơn và có thể không cứng. Các yếu tố nguy cơ có thể góp phần vào rối loạn cương dương, bao gồm:

-       Tình trạng bệnh, đặc biệt là bệnh tiểu đường hoặc bệnh tim

-       Sử dụng thuốc lá sẽ làm hạn chế lưu lượng máu đến tĩnh mạch và động mạch, có thể theo thời gian gây ra các tình trạng sức khỏe mãn tính dẫn đến rối loạn cương dương

-       Thừa cân, đặc biệt nếu bạn béo phì

-       Một số phương pháp điều trị, chẳng hạn như phẫu thuật tuyến tiền liệt hoặc xạ trị do bệnh ung thư

-       Chấn thương, đặc biệt nếu chúng làm tổn thương các dây thần kinh hoặc động mạch kiểm soát cương cứng

-       Các loại thuốc, bao gồm thuốc chống trầm cảm, thuốc kháng histamin và thuốc điều trị bệnh cao huyết áp, thuốc giảm đau hoặc thuốc điều trị tuyến tiền liệt

-       Điều kiện tâm lý, chẳng hạn như căng thẳng, lo âu hoặc trầm cảm

-       Sử dụng ma túy và rượu, đặc biệt nếu bạn là người nghiện ma túy hoặc uống rượu lâu dài

BIẾN CHỨNG

Các biến chứng do rối loạn cương dương có thể bao gồm:

-       Cuộc sống tình dục không đạt yêu cầu

-       Căng thẳng hoặc lo lắng

-       Xấu hổ

-       Vấn đề về mối quan hệ vợ chồng

-       Không có khả năng để có con

PHÒNG NGỪA

Cách tốt nhất để ngăn ngừa rối loạn chức năng cương dương là lựa chọn lối sống lành mạnh và quản lý bất kỳ tình trạng sức khỏe hiện có nào. Ví dụ:

-       Làm việc với bác sĩ để kiểm soát bệnh tiểu đường, bệnh tim mạch hoặc các tình trạng sức khỏe mãn tính khác.

-       Đi khám bác sĩ để kiểm tra thường xuyên và kiểm tra sàng lọc định kỳ.

-       Ngừng hút thuốc, hạn chế hoặc tránh uống rượu, và không sử dụng ma túy.

-       Luyện tập thể dục đều đặn.

-       Thực hiện các bước để giảm căng thẳng.

-       Đi khám và được tư vấn về tình trạng lo lắng, trầm cảm hoặc các vấn đề sức khỏe tâm thần khác.

Bác sĩ CK II Trịnh Hữu Thọ

Lược dịch từ Mayo Clinic

 

 
 
 

Bệnh tiểu đường và thai kỳ

Bệnh tiều đường thai kỳ là một dạng bệnh tiểu đường chia thành hai loại: bệnh tiểu đường tuýp 1 và bệnh tiểu đường tuýp 2. Bệnh tiểu đường thai kỳ sẽ xuất hiện trong suốt thời kỳ mang thai và thường chấm dứt sau khi em bé chào đời.

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều rủi ro phát triển thành bệnh tiểu đường tuýp 2 ở phụ nữ  đã từng mắc chứng bệnh tiểu đường thai kỳ.

Bệnh tiểu đường thai kỳ xuất hiện ở khoảng 5% phụ nữ mang thai và ở các phụ nữ này thì:

Chuyển sang bệnh tiểu đường tuýp 2 trong 5-10 năm sau khi sinh.

10-50% phụ nữ có bệnh tiểu đường thai kỳ sẽ phát triển thành bệnh tiểu đường tuýp 2.

Sau khi sinh, lượng đường trong máu của người mẹ sẽ ổn định.

Bệnh tiểu đường là gì?

Bệnh tiểu đường là khi nội tiết tố insulin của tụy bị thiếu hay giảm tác động cơ thể con người, hoặc cơ thể không chuyển hoá tốt insulin. Glucose là chất dinh dưỡng thiết yếu có vai trò cung cấp năng lượng cho hoạt động của các tế bào trong cơ thể. Tuy nhiên, lượng đường glucose không thể di chuyển một mình từ mạch máu vào tế bào mà phải cần insulin hỗ trợ trong quá trình vận chuyển. Chúng ta bị bệnh tiểu đường là do có quá nhiều lượng đường vào mạch máu và các biến chứng từ đó phát sinh.

Trong suốt quá trình mang thai, nhau tạo ra nội tiết tố đặc biệt để giúp thai nhi lớn và phát triển. Nhưng những nội tiết tố này cũng sẽ gây một số rủi ro đến tính năng hữu ích của insulin của người mẹ. Đây có thể được coi như là “kháng insulin”. Sẽ là điều tốt khi mức insulin và đường huyết cùng đạt chuẩn để duy trì mức độ đường trong máu an toàn. Nhưng trong trường hợp mắc bệnh tiểu đường thai kỳ thì lượng đường máu không còn được insulin kiểm soát, do đó, phải cần hoặc là giảm lượng đường hoặc là tăng lượng insulin hoặc là làm cả hai động tác đó.

Ai dễ mắc bệnh?

Phụ nữ ở lứa tuổi trên 30.

Phụ nữ dân tộc thiểu số bao gồm thổ dân Úc, dân ở các quần đảo trên Thái Bình Dương, người Châu Á, Philiipines, Ấn độ, Trung Quốc, Trung Đông hoặc Việt Nam.

Tiền sử gia đình có người mắc bệnh tiểu đường loại 2.

Phụ nữ bị quá cân, béo phì cả trước và khi đang mang thai.

Đã từng bị bệnh tiểu đường thai kỳ trong lần mang thai trước.

Khi nào thì bệnh tiểu đường thai kỳ được phát hiện?

Vào khoảng tuần thứ 20 của thai kỳ, quá trình và hoạt động liên quan đến việc sản sinh insulin đều bị ảnh hưởng bởi nội tiết tố sinh sản. Đây là nguyên nhân tại sao việc kiểm tra sàng lọc bệnh tiểu đường thai kỳ được yêu cầu theo định kỳ đối với phụ nữ mang thai dù họ có tiền sử bệnh hay không. Thời điểm xuất hiện bệnh thông thường từ tuần mang thai thứ 24 – 28, mặc dù vẫn có thể có những triệu chứng vài tuần trước hoặc sau giai đoạn này.

Trong quá trình mang thai, cơ thể người mẹ có nhu cầu tăng lượng đường vì nhu cầu tăng năng lượng. Tình huống lý tưởng là khi việc sản xuất insulin vừa đủ để phù hợp với lượng đường đang cần được gia tăng. Nhưng không phải thai phụ nào nào cũng đạt được trạng thái lý tưởng này.

Chẩn đoán như thế nào?

Quá trình kiểm tra sàng lọc được yêu cầu theo sự hướng dẫn của bác sĩ trong tuần mang thai thứ 26-28.

Công cụ để chẩn đoán thông thường là kiểm tra lượng đường, GCT, hay phương pháp kiểm tra mức độ dung nạp đường glucose, OGTT. Xét nghiệm mẫu máu để kiểm tra lượng đường glucose và sau một tiếng đồng hồ tiếp theo sẽ xét nghiệm lại mẫu máu sau khi uống nước có nhiều đường.

Dựa vào kết quả kiểm tra đầu tiên, để xác nhận lại chẩn đoán bệnh tiểu đường thai kỳ có thể phải cần có thêm xét nghiệm mức độ dung nạp đường glucose (OGTT) trong vòng 2 tiếng đồng hồ. Xét nghiệm mẫu máu cơ bản sau mẫu máu chuẩn 1 hoặc 2 giờ đồng hồ sau khi cho bệnh nhân uống dung dịch đường glucose. Phương pháp đơn giản hơn là có thể qua việc kiểm tra lượng đường từ nước tiểu. Một trong những xét nghiệm trong mỗi lần khám thai là kiểm tra lượng đường bằng que thử.

Lượng đường huyết được đo bằng millimoles trên một lít máu. Lượng đường huyết (BSL) bình thường là ở mức 4-6mmol/L. Hai tiếng sau khi ăn, trung bình sẽ đo được là 4-7mmol/L. Lý tưởng nhất là lượng đường huyết được giữ ở mức bình thường nếu được, nhưng mỗi cá thể đều có mức “chấp nhận được” riêng.

Triệu chứng bệnh tiểu đường thai kỳ

Bạn có thể không biết cho đến khi bạn kiểm tra nước tiểu và lượng đường. Vài phụ nữ có những triệu chứng tương tự như sau khi bị bệnh tiểu đường tuýp 1 hoặc tuýp 2:

Thường xuyên khát nước. Thức giấc giữa đêm để uống nước thật nhiều.

Đi tiểu ra nhiều nước và có nhu cầu nhiều lần hơn so với nhu cầu của các phụ nữ mang thai bình thường khác.

Vùng kín bị nhiễm nấm và không thể làm vệ sinh sạch sẽ bằng các thuốc/kem xức chống khuẩn thông thường.

Các vết thương, trầy xước hoặc vết đau khó lành.

Sụt cân nặng và mệt mỏi, thiếu năng lượng và kiệt sức.

Tiểu đường thai kỳ có nguy hiểm không?

Nếu bệnh tiểu đường thai kỳ được kiểm soát và giám sát bởi người bệnh và bác sĩ thì rủi ro sẽ được giảm rất nhiều. Mục đích chính trong việc điều trị bệnh tiểu đường là giảm lượng đường huyết trong máu đến mức bình thường và sản sinh lượng insulin phù hợp so với nhu cầu cần thiết của từng cá thể. Phải mất thời gian để ước lượng cân bằng lượng insulin cần thiết trong ngày.

Phụ nữ mang thai bi bệnh tiểu đường thai kỳ cần được giám sát suốt quá trình mang thai và sinh đẻ. Biến chứng xảy ra khi cơn đau đẻ bị kéo dài và người mẹ có lượng đường không phù hợp.

Bệnh ảnh hưởng đến bé như thế nào?

Nếu không kiểm soát, lượng đường glucose thừa trong máu sẽ làm thai nhi phát triển khá to. Do phải tương thích với lượng đường tăng qua nhau thai đến nguồn cung cấp máu, thai nhi sẽ tăng tiết lượng insulin để tiêu thụ lượng đường này và dự trữ năng lượng dưới lớp mỡ của thai nhi. Bé của các bà mẹ bị bệnh tiểu đường có thể nặng đến 4kg khi sinh. Đó là lý do khi bé mới sinh mà có cân quá nặng thì bác sĩ phải nghi ngờ đến bệnh tiểu đường thai kỳ ngay cả khi đã được chẩn đoán là không có bệnh trước khi sinh.

Để phòng các vấn đề sức khoẻ có thể xảy ra cho bé, các bác sĩ phải theo dõi bệnh tiểu đường và điều trị để kiểm soát lượng đường huyết. Thông thường lượng đường trong máu của mẹ sẽ tăng cao hơn trước khi sinh con.

Con của các bà mẹ bị tiểu đường không bị bệnh tiểu đường. Thông thường, khi được “cho ăn” thì lượng đường huyết tự cân đối và bé không bị ảnh hưởng xấu. Mối lo ngại lớn nhất là trong 4-6 tiếng đồng đồ sau khi sinh là bé dễ bị chứng hypoglycaemia (hiện tượng giảm đường huyết). Do đó, bé cần phải thường xuyên được xét nghiệm sau khi sinh cho đến khi lượng đường huyết (BSL) được ổn định và tiếp tục đều đặn trong suốt 24 tiếng đầu tiên.

Bệnh có thể ảnh hưởng đến bạn như thế nào?

Bạn cần giám sát lượng đường trong cơ thể với thiết bị kiểm tra máu gọi là máy đo đường huyết. Bạn có thể mượn, thuê hoặc mua ở các bệnh viện và nhà thuốc lớn. Vài nhà thuốc chuyên cho thuê hoặc bán các dụng cụ y khoa cho bệnh tiểu đường.

Các chuyên gia về bệnh tiểu đường sẽ giải thích về những vấn đề có liên quan đến việc xét nghiệm lượng đường huyết. Hãy ghi lại và đưa cho bác sĩ các kết quả lượng đường huyết khi đi khám bệnh. Lượng insulin sẽ phụ thuộc vào lượng đường huyết và trong giai đoạn đầu điều trị sẽ rất cần thông tin này để điểu chỉnh lại liều lượng cần thiết.

Bạn có thể cần được các chuyên gia hướng dẫn bạn về việc ăn kiêng, những món bạn được ăn và không được ăn. Thông thường các hướng dẫn về ăn uống sẽ gồm:

Ăn 3 bữa trong ngày và một buổi tối nhẹ. Bạn có thể dùng trà và bánh vào buổi sáng và chiều.

Dùng các món ăn ít chất béo và nhiều chất xơ.

Chế độ ăn cân bằng cung cấp đủ chất dinh dưỡng gồm thức ăn giàu chất canxi và chất sắt.

Kiểm soát lượng đường và tránh ăn đồ ngọt.

Ăn các loại thức ăn đa dạng và nhiều nguồn khác nhau để tránh bị biếng ăn.

Những quy tắc điều trị thông thường:

Duy trì các hoạt động thể chất. Điều này sẽ giúp kiểm soát lượng đường trong máu và duy trì cân nặng.

Tiêm insulin. Đây là việc điều trị áp dụng khi không thể kiểm soát được mức đường máu thông qua chế độ ăn và vận động. Tiêm insulin có thể được sử dụng an toàn trong thời kỳ mang thai bởi nội tiết tố này không truyền qua nhau từ mẹ sang con.

 

 
 
 

Hiện nay chưa có bằng chứng cho thấy bất kỳ test thử nghiệm CA 125, hoặc các loại test khác, có thể phát hiện ung thư buồng trứng.

Chào các bạn. Tôi là Bs Maurie Markman từ Trung tâm Điều trị Ung thư Mỹ ở Philadelphia. Tôi muốn bình luận ngắn gọn về một cảnh báo mới của cơ quan thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) về việc một công ty có một thử nghiệm CA 125 có thể phát hiện sớm ung thư buồng trứng. Theo FDA thì những tuyên bố như thế là không đúng. Hiện nay không có bằng chứng cho thấy bất kỳ test thử nghiệm CA 125, hoặc các loại thử nghiệm nào khác có thể phát hiện sớm ung thư buồng trứng.

Chúng ta hy vọng rằng một thử nghiệm như vậy hiện nay có thể phát hiện sớm ung thư buồng trứng, nhưng thực tế đến nay chưa có một thử nghiệm nào có thể làm được điều đó. FDA đang quan tâm đến vấn đề tuyên bố sai sự thật về vai trò của CA 125 có thể phát hiện sớm ung thư buồng trứng. Thực tế đã có những phụ nữ có những triệu chứng gợi ý bệnh ung thư buồng trứng, nhưng sau đó thử test CA 125 cho kết quả âm tính vì thế họ đã trì hoãn tìm kiếm sự can thiệp của y tế. Ngược lại, việc phẫu thuật là không cần thiết đối với trường hợp test CA 125 cho kết quả dương tính nhưng thực sự không phải là ung thư buồng trứng.

Người ta đặt câu hỏi: Tại sao FDA không có thẩm quyền để không những chỉ cảnh báo công chúng về vấn đề này mà còn ngăn chặn các công ty đã bán sản phẩm mà không có giá trị như vậy ? Và nếu các công ty này không lắng nghe theo FDA, thì bước tiếp theo là có thể bị truy tố hình sự.  

Tôi khuyến khích bạn đọc nên quan tâm đến các cảnh báo của FDA, và hy vọng công ty này có thể tự nguyện, hoặc được ủy nhiệm, ngừng bán sản phẩm này vì đây là một việc làm có khả năng gây hại cho cộng đồng. Tôi cảm ơn các bạn đã quan tâm.

Lược dịch theo Medscap OB/GYN & Women's Health

26/9/2016

Bs Trịnh Hữu Thọ

 
 
 

Hướng dẫn cách đọc kết quả xét nghiệm máu

Khi đi khám sức khỏe bạn thường đước bác sĩ chỉ định làm xét nghiệm máu và xét nghiệm nước tiểu. Tuy nhiên nếu bác sĩ không giải thích thì bạn cũng không thể hiểu được các chỉ số trên kết quả xét nghiệm có ý nghĩa gì. Mời các bạn cùng theo dõi bài viết dưới đây để cùng tìm hiểu về cách đọc kết quả xét nghiệm máu.

I. CÁC THÀNH PHẦN CỦA CÔNG THỨC MÁU

- WBC (White Blood Cell – Số lượng bạch cầu trong một thể tích máu):

Giá trị thường nằm trong khoảng từ 4.300 đến 10.800 tế bào/mm3, tương đương với số lượng bạch cầu tính theo đơn vị quốc tế là 4.3 đến 10.8 x 109tế bào/l.

Tăng trong viêm nhiễm, bệnh máu ác tính, các bệnh bạch cầu...; giảm trong thiếu máu do bất sản, thiếu hụt vitamin B12 hoặc folate, nhiễm khuẩn...

- RBC (Red Blood Cell – Số lượng hồng cầu (hoặc erythrocyte count) trong một thể tích máu):

Giá trị thường nằm trong khoảng từ 4.2 đến 5.9 triệu tế bào/cm3, tương đương với số lượng hồng cầu tính theo đơn vị quốc tế là 4.2 đến 5.9 x 1012tế bào/l.

Tăng trong mất nước, chứng tăng hồng cầu; giảm trong thiếu máu.

- HB hay HBG (Hemoglobin – Lượng huyết sắc tố trong một thể tích máu):

Hemoglobin là một loại phân tử protein có trong hồng cầu chuyên chở oxy và tạo màu đỏ cho hồng cầu.

Giá trị thay đổi tùy giới tính, thường nằm trong khoảng từ 13 đến 18 g/dl đối với nam và 12 đến 16 g/dl đối với nữ (tính theo đơn vị quốc tế tương ứng là 8.1 – 11.2 millimole/l và 7.4 – 9.9 millimole/l).

Tăng trong mất nước, bệnh tim và bệnh phổi; giảm trong thiếu máu, chảy máu và các phản ứng gây tan máu.

- HCT (Hematocrit – Tỷ lệ thể tích hồng cầu trên thể tích máu toàn bộ):

Giá trị thay đổi tùy giới tính, thường nằm trong khoảng từ 45 đến 52% đối với nam và 37 đến 48% đối với nữ.

Tăng trong các rối loạn dị ứng, chứng tăng hồng cầu, hút thuốc lá, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, bệnh mạch vành, ở trên núi cao, mất nước, chứng giảm lưu lượng máu; giảm trong mất máu, thiếu máu, thai nghén.

- MCV (Mean corpuscular volume – Thể tích trung bình của một hồng cầu):

Giá trị này được lấy từ HCT và số lượng hồng cầu. Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 80 đến 100 femtoliter (1 femtoliter = 1/1triệu lít).

Tăng trong thiếu hụt vitamin B12, thiếu acid folic, bệnh gan, nghiện rượu, chứng tăng hồng cầu, suy tuyến giáp, bất sản tuỷ xương, xơ hoá tuỷ xương; giảm trong thiếu hụt sắt, hội chứng thalassemia và các bệnh hemoglobin khác, thiếu máu trong các bệnh mạn tính, thiếu máu nguyên hồng cầu, suy thận mạn tính, nhiễm độc chì.

- MCH (Mean Corpuscular Hemoglobin – Số lượng trung bình của huyết sắc tố có trong một hồng cầu):

Giá trị này được tính bằng cách đo hemoglobin và số lượng hồng cầu. Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 27 đến 32 picogram.

Tăng trong thiếu máu tăng sắc hồng cầu bình thường, chứng hồng cầu hình tròn di truyền nặng, sự có mặt của các yếu tố ngưng kết lạnh; giảm trong bắt đầu thiếu máu thiếu sắt, thiếu máu nói chung, thiếu máu đang tái tạo.

- MCHC (Mean Corpuscular Hemoglobin Concentration – Nồng độ trung bình của huyết sắc tố trong một thể tích máu):

Giá trị này được tính bằng cách đo giá trị của hemoglobin và hematocrit. Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 32 đến 36%.
Trong thiếu máu tăng sắc: hồng cầu bình thường, chứng hồng cầu hình tròn di truyền nặng, sự có mặt của các yếu tố ngưng kết lạnh.

Trong thiếu máu đang tái tạo: có thể bình thường hoặc giảm do giảm folate hoặc vitamin B12, xơ gan, nghiện rượu.

- PLT (Platelet Count – Số lượng tiểu cầu trong một thể tích máu):

Tiểu cầu không phải là một tế bào hoàn chỉnh, mà là những mảnh vỡ của các tế bào chất (một thành phần của tế bào không chứa nhân hoặc thân của tế bào) từ những tế bào được tìm thấy trong tủy xương.

Tiểu cầu đóng vai trò sống còn trong quá trình đông máu, có tuổi thọ trung bình là 5 đến 9 ngày.

Giá trị thường nằm trong khoảng từ 150.000 đến 400.000/cm3 (tương đương 150 – 400 x 109/l).

Số lượng tiểu cầu quá thấp sẽ gây mất máu. Số lượng tiểu cầu quá cao sẽ hình thành cục máu đông, làm cản trở mạch máu, dẫn đến đột quỵ, nhồi máu cơ tim, nghẽn mạch phổi, tắc nghẽn mạch máu...

Tăng trong những rối loạn tăng sinh tuỷ xương, bệnh bạch tăng tiểu cầu vô căn, xơ hoá tuỷ xương, sau chảy máu, sau phẫu thuật cắt bỏ lách..., dẫn đến các bệnh viêm.

Giảm trong ức chế hoặc thay thế tuỷ xương, các chất hoá trị liệu, phì đại lách, đông máu trong lòng mạch rải rác, các kháng thể tiểu cầu, ban xuất huyết sau truyền máu, giảm tiểu cầu do miễn dịch đồng loại ở trẻ sơ sinh...

- LYM (Lymphocyte – Bạch cầu Lymphô):

Lymphocyte giúp cơ thể chống lại nhiễm trùng. Có rất nhiều nguyên nhân làm giảm lymphocytes như: giãm miễn nhiễm, nhiễm HIV/AIDS, Lao, sốt rét, ung thư máu, ung thư hạch...

Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 20 đến 25%.

- MXD (Mixed Cell Count – tỷ lệ pha trộn tế bào trong máu):

Mỗi loại tế bào có một lượng % nhất định trong máu. MXD thay đổi tùy vào sự tăng hoặc giảm tỷ lệ của từng loại tế bào.

- NEUT (Neutrophil – Tỷ lệ bạch cầu trung tính):

Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 60 đến 66%. Tỷ lệ tăng cao cho thấy nhiễm trùng máu.

Tăng trong nhiễm khuẩn cấp, nhồi máu cơ tim cấp, stress, ung thư, bệnh bạch cầu dòng tuỷ; giảm trong nhiễm virus, thiếu máu bất sản, các thuốc ức chế miễn dịch, xạ trị...

- RDW (Red Cell Distribution Width – Độ phân bố hồng cầu):

Giá trị này càng cao nghĩa là độ phân bố của hồng cầu thay đổi càng nhiều. Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 11 đến 15%.

RDW bình thường và:

MCV tăng, gặp trong: thiếu máu bất sản, trước bệnh bạch cầu.

MCV bình thường, gặp trong: thiếu máu trong các bệnh mạn tính, mất máu hoặc tan máu cấp tính, bệnh enzym hoặc bệnh hemoglobin không thiếu máu.

MCV giảm: thiếu máu trong các bệnh mạn tính, bệnh thalassemia dị hợp tử

RDW tăng và:

MCV tăng: thiếu hụt vitamin B12, thiếu hụt folate, thiếu máu tan huyết do miễn dịch, ngưng kết lạnh, bệnh bạch cầu lympho mạn.

MCV bình thường: thiếu sắt giai đoạn sớm, thiếu hụt vitamin B12 giai đoạn sớm, thiếu hụt folate giai đoạn sớm, thiếu máu do bệnh globin.

MCV giảm: thiếu sắt, sự phân mảnh hồng cầu, bệnh HbH, thalassemia.

- PDW (Platelet Disrabution Width – Độ phân bố tiểu cầu):

Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 6 đến18 %.

Tăng trong ung thư phổi, bệnh hồng cầu liềm, nhiễm khuẩn huyết gram dương, gram âm; giảm trong nghiện rượu.

- MPV (Mean Platelet Volume – Thể tích trung bình của tiểu cầu trong một thể tích máu):

Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 6,5 đến 11fL.

Tăng trong bệnh tim mạch, tiểu đường, hút thuốc lá, stress, nhiễm độc do tuyến giáp...; giảm trong thiếu máu do bất sản, thiếu máu nguyên hồng cầu khổng lồ, hoá trị liệu ung thư, bạch cầu cấp...

- P- LCR (Platelet Larger Cell Ratio – Tỷ lệ tiểu cầu có kích thước lớn):

Giá trị bình thường nằm trong khoảng từ 150 đến 500 G/l (G/l = 109/l).

II. CÁCH ĐỌC KẾT QUẢ SINH HÓA MÁU

1. GLU (GLUCOSE): Đường trong máu. Giới hạn bình thường từ 4,1-6,1 mnol/l. Nếu vượt quá giới hạn cho phép thì tăng hoặc giảm đường máu. Tăng trên giới hạn là người có nguy cơ cao về mắc bệnh tiểu đường.

2. SGOT & SGPT: Nhóm men gan

Giới hạn bình thường từ 9,0-48,0 với SGOT và 5,0-49,0 với SGPT. Nếu vượt quá giới hạn này chức năng thải độc của tế bào gan suy giảm. Nên hạn chế ăn các chất thức ăn, nước uống làm cho gan khó hấp thu và ảnh hưởng tới chức năng gan như:
Các chất mỡ béo động vật và rượu bia và các nước uống có gas.

3. Nhóm MỠ MÁU: Bao gồm CHOLESTEROL, TRYGLYCERID, HDL-CHOLES, LDL-CHLES

Giới hạn bình thường của các yếu tố nhóm này như sau:

Giới hạn bình thường từ 3,4-5,4 mmol/l với CHOLESTEROL.

Giới hạn bình thường từ 0,4-2,3 mmol/l với TRYGLYCERID.

Giới hạn bình thường từ 0,9-2,1 mmol/l với HDL-Choles.

Giới hạn bình thường từ 0,0-2,9 mmol/l với LDL-Choles.

Nếu 1 trong các yếu tố trên đây vượt giới hạn cho phép thì có nguy cơ cao trong các bệnh về tim mạch và huyết áp. Riêng chất HDL-Choles là mỡ tốt, nếu cao nó hạn chế gây xơ tắc mach máu. Nếu CHOLESTEROL quá cao kèm theo có cao huyết áp và LDL-Choles cao thì nguy cơ tai biến, đột quỵ do huyết áp rất cao. Nên hạn chế ăn các thực phẩm chứa nhiều chất mỡ béo và cholesterol như: phủ tạng động vật, trứng gia cầm, tôm, cua, thịt bò, da gà... Tăng cường vận động thể thao. Uống thêm rượu tỏi và theo dõi huyết áp thường xuyên.

4. GGT: Gama globutamin, là một yếu tố miễn dịch cho tế bào gan. Bình thường nếu chức năng gan tốt, GGT sẽ có rất thấp ở trong máu (Từ 0-53 U/L). Khi tế bào gan phải làm việc quá mức, khả năng thải độc của gan bị kém đi thì GGT sẽ tăng lên -> Giảm sức đề kháng, miễn dịch của tế bào gan kém đi. Dễ dẫn tới suy tế bào gan. Nếu với người có nhiễm SVB trong máu mà GGT, SGOT & SGPT cùng tăng thì cần thiết phải dùng thuốc bổ trợ tế bào gan và tuyệt đối không uống rượu bia nếu không thì nguy cơ dẫn đến VGSVB là rất lớn.

5. URE (Ure máu): là sản phẩm thoái hóa quan trọng nhất của protein được thải qua thận.

Giới hạn bình thường: 2.5 - 7.5 mmol/l.

6. BUN (Blood Urea Nitrogen) = ure (mg) x 28/60; đổi đơn vị: mmol/l x 6 = mg/dl.

Tăng trong: bệnh thận, ăn nhiều đạm, sốt, nhiễm trùng, tắc nghẽn đường tiểu...

Giảm trong: ăn ít đạm, bệnh gan nặng, suy kiệt...

BUN: là nitơ của ure trong máu.

Giới hạn bình thường 4,6 - 23,3 mg/dl. -> Bun = mmol/l x 6 x 28/60 = mmol/l x 2,8 (mg/dl).

Tăng trong: suy thận, suy tim, ăn nhiều đạm, sốt, nhiễm trùng..

Giảm trong: ăn ít đạm, bệnh gan nặng..

7. CRE (Creatinin): là sản phẩm đào thải của thoái hóa creatin phosphat ở cơ, lượng tạo thành phụ thuộc khối lượng cơ, được lọc qua cầu thận & thải ra nước tiểu; cũng là thành phần đạm ổn định nhất không phụ thuộc vào chế độ ăn -> có giá trị xác định chức năng cầu thận.

Giới hạn bình thường: nam 62 - 120, nữ 53 - 100 (đơn vị: umol/l).

Tăng trong : bệnh thận, suy tim, tiểu đường, tăng huyết áp vô căn, NMCT cấp...

Giảm trong : có thai, sản giật...

8. URIC (Acid Uric = urat): là sản phẩm chuyển hóa của base purin (Adenin, Guanin) của ADN & ARN, thải chủ yếu qua nước tiểu.

Giới hạn bình thường: nam 180 - 420, nữ 150 - 360 (đơn vị: umol/l).

Tăng trong:

Nguyên phát: do sản xuất tăng, do bài xuất giảm (tự phát) -> liên quan các men: bệnh Lesh Nyhan, Von Gierke..

Thứ phát: do sản xuất tăng (u tủy, bệnh vảy nến..), do bài xuất giảm (suy thận, dùng thuốc, xơ vữa động mạch..).

Bệnh Gout (thống phong): tăng acid uric/ máu có thể kèm nốt tophi ở khớp & sỏi urat ở thận.

Giảm trong: bệnh Wilson, thương tổn tế bào gan..

9. KẾT QUẢ MIỄN DỊCH

Anti-HBs: Kháng thể chống vi rút viêm gan siêu vi B trong máu (ÂM TÍNH < = 12 mUI/ml).

HbsAg: Vi rút viêm gan siêu vi B trong máu (ÂM TÍNH).

 

 
 
 

Lạm dụng kháng sinh có thể gây tiểu đường týp 1

Các nhà nghiên cứu đã cho chuột dùng liều kháng sinh tương đương với liều được dùng cho trẻ em để điều trị các bệnh như viêm tai. Sau 3 đợt dùng liều liên tục, họ phát hiện tỷ lệ bị tiểu đường týp 1 tăng nhanh ở chuột.

TS. Martin Blaser thuộc Trung tâm y tế NYU Langone, New York (Hoa kỳ) giải thích, kháng sinh làm thay đổi khuẩn chí đường ruột. Những thay đổi này sẽ dẫn tới những thay đổi khác, bao gồm việc làm biến đổi tế bào T trong hệ miễn dịch, dẫn tới tăng tình trạng viêm các tế bào sản sinh insulin ở tuyến tụy.

Nhóm nghiên cứu tự hỏi liệu những thay đổi này có xảy ra theo cách tương tự ở người? Mặc dù còn quá sớm để có thể biết chắc chắn, song TS. Martin Blaser cho biết, một nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng, trẻ em bị các bệnh tự miễn như tiểu đường týp 1 có sự biến đổi về vi khuẩn đường ruột. Jessica Dunne - Giám đốc Quỹ Nghiên cứu về tiểu đường ở trẻ cũng cho rằng, những thay đổi khuẩn chí có thể đóng một vai trò nào đó trong bệnh tiểu đường týp 1, song có thể gây bệnh còn chưa được rõ.

Các nhà khoa học khuyến cáo, các bậc phụ huynh nên  tham khảo ý kiến bác sĩ để biết khi nào nên dùng kháng sinh và chỉ dùng khi thật cần thiết.

 

 
 
 

Phụ nữ mang thai dùng thuốc paracetamol có thể làm tăng nguy cơ con bị chứng tăng động giảm chú ý (ADHD - Attention Deficit Hyperactivity Disorder).

Phụ nữ mang thai dùng thuốc paracetamol có thể làm tăng nguy cơ con bị chứng tăng động giảm chú ý (ADHD - Attention Deficit Hyperactivity Disorder).

 

Tuy Paracetamol là thuốc được sử dụng phổ biến nhất để giảm đau, song các nhà nghiên cứu New Zealand cho rằng phát hiện này là ‘đáng báo động”.

Nghiên cứu của trường Đại học Auckland University ủng hộ một nghiên cứu hồi đầu năm nay của Đan Mạch về mối liên quan giữa thuốc giảm đau thông dụng này với các rối loạn hành vi.

Các tác giả đã phân tích số liệu từ một nghiên cứu gồm 871 trẻ dưới 1 tuổi ở châu Âu về việc sử dụng thuốc paracetamol, aspirin, thuốc chống tiết axít và thuốc kháng sinh ở người mẹ khi mang thai.

Sau đó họ đánh giá những khó khăn về hành vi và triệu chứng ADHD của trẻ khi được 7 và 11 tuổi.

Gần một nửa số bà mẹ trong nghiên cứu có dùng paracetamol trong khi mang thai và con của họ có nguy cơ gặp những khó khăn về hành vi và ADHD cao hơn.

Các thuốc khác không gây ra sự khác biệt đáng kể trong hành vi.

“Kết quả cho thấy ngay cả paracetamol liều thấp (xác định qua việc thuốc được dùng trong nhiều tuần) cũng có thể ảnh hưởng đến hành vi sau 7 năm là đáng báo động, vì đây là thuốc hay được sử dụng nhất trong thời gian mang thai,” BSJohn Thompson, người đứng đầu nhóm nghiên cứu cho biết.

Nhưng nghiên cứu không có số liệu về việc các triệu chứng ADHD có tiếp diễn trong giai đoạn dậy thì hay không, liệu cha mẹ trẻ có bị ADHD không, hoặc người mẹ dùng thuốc ở giai đoạn nào và với liều bao nhiêu.

“Cần nghiên cứu thêm để có đánh giá chính xác hơn về nguy cơ và hậu quả của việc sử dụng thuốc giảm đau này trong khi mang thai”, BS Thompson nói.

Rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) ảnh hưởng đến 5-10% số trẻ tuổi học đường ở New Zealand, biến nó trở thành một trong những rối loạn phát triển thần kinh hay gặp nhất ở nhóm tuổi này.

Theo Daily Mail